Home Chương trình - Dự án Dự án phát triển 10 năm hoạt động Quỹ tín dụng phụ nữ xã Yến Mao

10 năm hoạt động Quỹ tín dụng phụ nữ xã Yến Mao

54 min read
0
0
427

MƯƠÌ NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG PHỤ NỮ XÁ YẾN MAO

Nguyễn Thị Hồng, Quỹ Tín dụng Phụ nữ xã Yến Mao

Nguyễn Anh Dũng, Điều phối viên, RDSC

BÁO CÁO TẠI HỘI THẢO CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG

Huế, 15 – 16/12/2005

1. Bối cảnh

Cùng với kinh nghiệm và sự hỗ trợ kỹ thuật từ Quỹ tín dụng Phụ nữ (QTD) Phượng Mao (thành lập năm 1995), RDSC đã cùng Hội phụ nữ xã phối hợp thành lập QTD Yến Mao từ năm 1997 nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của phụ nữ nghèo. Sau gần 10 năm hoạt động, Quỹ tín dụng phụ nữ xã Yến Mao đã trở thành một tổ chức tín dụng bền vững nhất trong các Quỹ tín dụng do RDSC hỗ trợ tại ba huyện của hai tỉnh Phú Thọ và Quảng Bình. Báo cáo này nhằm đánh giá sơ bộ về kết quả hoạt động của QTD và chia sẻ một số kinh nghiệm trong quá trình tổ chức hoạt động của QTD xã Yến Mao.

2. Tổ chức và hình thành QTD

2.1. Triết lý tổ chức của QTD

 QTD xã là một loại hình tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tín dụng vi mô theo mô hình hợp tác xã do phụ nữ làm chủ.

QTD thành lập nhằm phát triển kinh tế, nâng cao năng lực quản lý tài chính cho phụ nữ và gia đình họ thông qua việc tiếp cận các nguồn vốn vay nhỏ.

Quỹ phấn đấu để

  • xây dựng một tổ chức kinh tế bền vững hoạt động trong lĩnh vực tín dụng nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính.
  • Cải thiện mức sống của gia đình các thành viên tham gia thông qua tăng thu nhập nhờ có tích luỹ bằng tiết kiệm, có vốn kịp thời và thuận lợi để đầu tư sản xuất.
  • Nâng cao vị thế của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo trong đời sống gia đình và xã hội.

Hoạt động của Quỹ tuân thủ theo nguyên tắc hoạt động của Hợp tác xã, cụ thể:

Tính tự nguyện: thành viên tự nguyện gia nhập và ra khỏi Quỹ, và cần được Đại hội thành viên đồng ý ;

Dân chủ bình và bình đẳng: mọi thành viên trong quản lý, kiểm tra, giám sát và có quyền ngang nhau trong biểu quyết;

Tính tự quản: Quỹ tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh và bảo đảm quyền lợi của các thành viên

Hài hoà lợi ích: lợi ích của các thành viên và của Quỹ được kết hợp hài hoà về mặt kinh tế và xã hội.

Tính hợp tác: các thành viên Quỹ cùng hợp tác vì phát triển cộng đồng và của chính mình

2.2. Các bước hình thành tổ chức

Bước 1: Điều tra về các nguồn vốn tại địa phương và khảo sát nhu cầu vay vốn của cộng đồng

Bước 2: Thành lập Ban vận động và thống nhất quy chế hoạt động, hoàn thành các thủ tục thành lập Quỹ.

Bước 3: Lập kế hoạch kinh doanh của tổ Quỹ. Sau khi có quyết định thành lập qũy tín dụng của UBND xã, Qũy tín dụng tổ chức cuộc họp xây dựng kế hoạch kinh doanh

Bước 4: Triển khai tại 1 đến 2 thôn trên địa bàn xã: tập huấn ghi chép sổ sách kế toán, thu cổ phần, cho vay, thu gốc và thu lãi…

Bước 5: Đánh giá kết quả hoạt động và nhân rộng mô hình ra địa bàn các thôn khác

Bước 6: Tổ chức Đại hội chính thức thành lập QTD trên quy mô xã

2.3. Các bước phát triển thành viên

Quỹ hoạt động tại tất cả 14 thôn dân cư của xã Yến Mao. Số thành viên đang vay vốn là 317 thành viên, so với số thành viên hiện tại của Quỹ là 384 người, trong đó: 384 nữ, 84 người nghèo, 200 người dân tộc. Thành viên muốn gia nhập Qũy tài chính vi mô thực hiện theo các bước:

Bước 1: Các thành viên cùng nhau tạo một nhóm gồm 5 thành viên và thực hiện các hoạt động vay trả trong nhóm

Bước 2: Nhóm làm đơn xin gia nhập Quỹ khi đọc kỹ và thống nhất thực hiện theo quy chế Quỹ

Bước 3: Cán bộ Quỹ tài chính vi mô tập huấn cho các thành viên mới tham gia, tiến hành thu cổ phần

Bước 4: Tiến hành các hoạt động vay vốn khi đại hội thành viên đồng ý.

2.4. Vai trò hỗ trợ của RDSC

Trong quá trình thành lập, vai trò của RDSC thế hiện thông qua các hoạt động

· Điều tra các nguồn và nhu cầu vốn của các hộ gia đình tại địa phương

· Hỗ trợ hình thành và nâng cao năng lực cho các thành viên

· Đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ xúc tác

· Hỗ trợ một phần vốn trong giai đoạn đầu xây dựng tổ chức.

· Theo dõi giám sát trong các giai đoạn đầu của hoạt động

 

2.5. Nguồn vốn hoạt động

Vốn cổ phần: Do các thành viên đóng góp, theo kinh nghiệm của RDSC và QTD Yến Mao thì mức vốn cổ phần có tăng theo từng giai đoạn. Ban đầu mức cổ phần ở Yến Mao là 100.000Đ, về sau được quy định tăng lên đến 150 nghìn đồng một thành viên. Cổ phần có thể được góp dần theo khả năng, nhưng tối đa là 12 tháng.

Vốn đối ứng: Do RDSC đối ứng cho vay vốn căn cứ vào chất lượng tín dụng của Quỹ với tỷ lệ tối đa là 2:1 so với nguồn vốn tự huy động qua cổ phần.

Tiết kiệm tự nguyện: Huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ cộng đồng và các thành viên.

Nguồn vốn khác: Vốn vay từ các cá nhân, tổ chức, các nhà tài trợ trong và ngoài nước…

Kể từ khi năm 1997, đến nay nguồn vốn hoạt động của Quỹ là 200.140.000 đồng

2.6. Cơ cấu tổ chức quản lý

Ban lãnh đạo cuả quỹ gồm 17 thành viên trong đó Ban quản lý Quỹ cấp xã có 2 thành viên, 1 thành viên Ban giám sát và 14 Tổ trưởng là lãnh đạo ở cấp thôn.

Tổ chức cấp xã

Tham gia quản lý và giám sát hoạt động QTD gồm:

Ban quản lý (BQL): Giám đốc quỹ, kế toán qũy, thủ quỹ.

Ban giám sát (BGS): Các thành viên bầu ra giám sát các hoạt động của Quỹ, hiện tại Quỹ có 3 thành viên tham gia vào Ban giám sát

 

Tổ chức cấp thôn

Tổ tín dụng là một tổ chức cấp dưới của QTD, mỗi tổ có trung bình không quá 50 thành viên trong cùng một thôn. Tổ có chức năng cung cấp các dịch vụ tín dụng cho các thành viên trong cùng một thôn. Tổ cũng thực hiện vai trò quản lý các hoạt động tín dụng thực hiện trong thôn do tổ phụ trách.

2.7. Các dịch vụ tài chính

Tiết kiệm

– Tiết kiệm không kỳ hạn: là hình thức tiết kiệm mà người gửi có thể rút bất kỳ khi nào trong thời gian làm việc của Qũy tín dụng

– Tiết kiệm có kỳ hạn: là hình thức tiết kiệm có thời gian cụ thể 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm, 2 năm.

Hiện tại Quỹ áp dụng lãi suất tiền gửi là 0.5%/1 tháng.

Cho vay

Quỹ thường cho các thành viên vay vốn theo món vay nhỏ không yêu cầu thế chấp bằng hiện vật. Mức vay tăng dần theo những chu kỳ vay tiếp theo khi người vay hoàn trả tốt. Mục đích cho vay phục vụ chủ yếu cho đầu tư nhỏ và chủ yếu để bổ sung vốn cho sản xuất chăn nuôi, trồng trọt của gia đình.

– Cho vay ngắn hạn: Nguồn vốn tối đa là 1 triệu, thời hạn vay là 1 năm, 2 tháng đầu trả lãi, 10 tháng tiếp theo, mỗi tháng trả một phần mười số gốc ban đầu và tiền lãi số gốc còn nợ đầu tháng.

– Cho vay trung hạn: Nguồn vốn tối đa là 2 triệu, thời hạn vay là 2 năm, 4 tháng đầu trả lãi, 20 tháng tiếp theo, mỗi tháng trả một phần 20 số gốc ban đầu và tiền lãi số gốc còn nợ đầu tháng. Nguồn vốn vay trung hạn hiện nay đang triển khai thí điểm trên một vài thôn với một số quy định ràng buộc khác.

Hiện tại Quỹ áp dụng lãi suất vay cho vay là 1% tính cho 1 tháng, và lãi suất tiền gửi là 0.5%/1 tháng.

Trong thực tế, khi mới bắt đầu xây dựng quỹ, mức vay thường chỉ khoảng 200.000 đ tới 500.000 đ để các khách hàng và cán bộ quản lý quen với cách quản lý tiền vay, và quản lý quỹ và xây dựng niềm tin với nhau, và cũng để giảm rủi ro. Đến năm thứ hai, mức vay của Quỹ mới tăng lên dần lên tới 500.000-800.000 đ. Tới năm thứ ba trở vi mới có các mức vay đạt một triệu. Việc tăng dần mức vay cũng là một quy định của dự án.

Sản phẩm vay trung hạn cũng chỉ hình thành từ năm thứ năm, sau khi Quỹ đã hiểu rõ các thành viên là khách hàng của mình. Quy mô nguồn vốn tăng lên đáng kể cũng là yếu tố quyết định sản phẩm cho vay trung hạn. Năng lực quản lỹ xũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai một sản phẩm mơí.

Cho vay theo uỷ thác: Quỹ nhận tiền của tổ chức hay cá nhân cho vay theo từng đối tượng và mục đích cụ thể, ví dụ qũy qoay vòng công trình vệ sinh.

2.8. Cơ cấu thu chi của Quỹ

Về nguyên tắc, hoạt động của QTD là tự trang trải các chi phí hoạt động và kinh doanh có lãi. Lãi suất của vốn cho vay và tiết kiệm định mức được xác định căn cứ vào lãi suất Ngân hàng Nhà nước thông qua các kỳ đại hội thành viên.

Các nguồn thu: Thu từ lãi cho vay, thu tiền bán đơn, các khoản tài trợ không hoàn lại.

Các khoản chi: Phụ cấp BQL và BGS (50% phần lãi cho vay thu được), trích quỹ lạm phát, chi trả lãi tiết kiệm định mức và tiết kiệm tự nguyện, chi mua sắm tài sản, chi văn phòng phẩm và một số khoản chi khác theo quy chế của Quỹ. Các mức chi tiêu của Quỹ do RDSC hỗ trợ hình thành khi Quỹ còn nhỏ và chưa đủ trang trải. Về sau này, các mức chi tiêu do Đại hội thành viên của Quỹ quyết định trên cơ sở nguyên tắc tự trang trải của Quỹ.

3. Một số tác động của QTD

3.1. Tác động đến nền kinh tế của xã

Đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư

Hiện tại trên địa bàn xã Yến Mao có nhiều chương trình hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ tài chính, như ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng chính sách, và các tổ chức tư nhân khác. Tổng nguồn vốn cho vay hiện nay trên địa bàn xã là 8,759,600,000đồng, trong đó nguồn vốn cho vay của QTD là 159,600,000đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% tổng nguồn vốn nhưng đã đáp ứng được 19,9% số người vay vốn trên địa bàn toàn xã.

Một trong những điểm mạnh trong hoạt động của QTD là cung cấp nguồn vốn kịp thời ngay tại địa bàn thôn xã. Hàng tháng đều có thành viên vay vốn và có thành viên trả vốn, thế mạnh này có thể đáp ứng được nhu cầu vốn cấp bách của các thành viên, nhất là đối với những thành viên có nhu cầu vốn nhỏ và đột xuất.

3.2. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng

Khi tiếp cận với nguồn vốn vay của QTD, 99,1% thành viên sử dụng vào dự án đầu tư sản xuất, 0,9% thành viên sử dụng đầu tư làm dịch vụ nhỏ và cho con cái học tập. Ngoài ra, hoạt động của quỹ tín dụng tạo ra nguồn thu nhập cho 13 thành viên Ban quản lý Quỹ hơn 1 triệu đồng mỗi tháng.

3.3. Tác động đến nền kinh tế hộ gia đình

Thế mạnh của QTD so với hoạt động của các tổ chức khác hoạt động trong cùng lĩnh vực cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô:

Cung cấp nguồn vốn nhỏ, không phải thế chấp

Nguồn vốn có ngay tại địa phương, nếu nhu cầu hợp lý và kế hoạch kinh doanh hợp lý thì thành viên sẽ được vay ngay trong tháng đó

Trả gốc và lãi hàng tháng: mỗi tháng trả 1/10 món vay ban đầu và lãi của gốc hiện tại.

Với những lợi thế trên, hoạt động của QTD Yến Mao đã thu hút sự tham gia của người nghèo, người dân tộc, những người mà trước đây họ rất khó tiếp cận với các nguồn vốn. Trong năm 2004 đã đáp ứng được nguồn vốn vay cho 84 lượt thành viên nghèo, và đã có 20 thành viên thoát nghèo nhờ tham gia vào hoạt động của QTD xã Yến Mao.

3.4. Các tác động xã hội khác

Nâng cao nhận thức cho cộng đồng

Ngoài các hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính cho các thành viên, Qũy còn thực hiện các hoạt động hỗ trợ như tổ chức các khoá tập huấn về trồng trọt và chăn nuôi và áp dụng thực tiễn vào các hoạt động sản xuất. Tính từ năm 2001 đến nay, Quỹ đã tổ chức được 10 khoá tập huấn với sự tham gia của 500 lượt thành viên (trong đó, có 8 khoá tập huấn cho các cán bộ quản lý quỹ với sự tham gia của 136 lượt cán bộ quản lý).

Ngoài ra, trong các cuộc bình xét thành viên vay vốn, các thành viên phải trình bày kế hoạch kinh doanh của mình. Trong các cuộc họp, nhiều vấn đề về kinh tế, phụ nữ và trẻ em đã được đưa ra thảo luận và bàn bạc tập thể, từ đó mối quan hệ của các thành viên ngày càng nâng cao.

Nâng cao vị thế của người phụ nữ

Trong hoạt động của QTD, người phụ nữ là người trực tiếp vay vốn, và họ quản lý sử dụng đồng vốn có hiệu quả, họ là người tạo ra thu nhập cho gia đình, và tiếng nói của họ trong gia đình và ngoài xã hội có vị thế hơn. Ngoài ra, thông qua các cuộc họp do QTD tổ chức, các thành viên tham gia đã hiểu hơn về quyền và trách nhiệm của mình trong gia đình, và tham gia nhiệt tình hơn trong các hoạt động của các tổ chức đoàn thể.

Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận với các thành viên vay vốn, một ảnh hưởng phụ đối với họ đó là họ là người trực tiếp đứng ra vay vốn, vì vậy áp lực hoàn trả vốn đè nặng trên đôi vai họ. Vì vậy, để phần nào hạn chế tâm lý trên đối với các thành viên vay vốn, giải pháp của QTD đưa ra là: Khi vay vốn thì cả hai vợ chồng phải cùng nhau thảo luận và thống nhất về kế hoạch kinh doanh và cùng ký vào đơn xin vay vốn.

Nâng cao năng lực quản lý tài chính

Tất cả các thành viên trong ban quản lý qũy đều lần đầu tham gia vào hoạt động quản lý tài chính, các thành viên đã tham gia các khoá tập huấn về quản lý tài chính do cán bộ dự án RDSC tổ chức. Sau 10 năm hoạt động, năng lực quản lý tài chính của các thành viên đã có năng lực nhất định, hiện tại Qũy quản lý gần 400 thành viên với nguồn vốn hơn 200 triệu đồng.

4. Phương hướng

Quản lý tài chính bằng máy tính

Hiện tại một vấn đề đặt ra là nguồn vốn hoạt động của Quỹ đã lên đến 200 triệu và số thành viên gần 400, vì vậy hệ thống quản lý tài chính theo ghi chép là tương đối khó kiểm soát. Vì vậy trong kế hoạch năm 2006, Ban quản lý qũy tín dụng với sự hỗ trợ của RDSC sẽ đưa máy tính vào quản lý tài chính.

Cung cấp hình thức vay vốn dài hạn

Với nguồn vốn Quỹ hiện nay, nhu cầu vay vốn và kế hoạch kinh doanh của các thành viên, một số nhu cầu về nguồn vốn lớn sẽ không được đáp ứng. Theo dự kiến ban quản lý Quỹ tín dụng sẽ đưa ra kế hoạch vay vốn dài hạn trong 3 năm với nguồn vốn từ 3 triệu đến 5 triệu đồng. Tuy nhiên, các thành viên vay vốn sẽ phải thoã mãn các tiêu chí như thời gian tham gia các hoạt động của Quỹ, mức độ tuân thủ theo quy chế trong quá trình tham gia, kế hoạch sử dụng vốn vay được mô tả như một văn bản dự án nhỏ của hộ gia đình…

Tập huấn quản lý tài chính cho các QTD mới thành lập

Hiện tại, một số thành viên trong Ban quản lý QTD đã tham gia các khoá tập huấn như tập huấn cho tập huấn viên, quản lý tài chính, khởi sự doanh nghiệp… và các cuộc hội thảo về quản lý tài chính, cán bộ kế toán qũy cũng đã tham gia tổ chức các khoá tập huấn quản lý tài chính cho các QTD của các tổ chức khác với vai trò là trợ giảng. Trong năm 2006, cán bộ kế toán tiếp tục tổ chức các khoá tập huấn quản lý tài chính cho cộng đồng với sự giám sát và hỗ trợ của cán bộ dự án RDSC.

Chuyển đổi thành tổ chức tài chính quy mô nhỏ

Theo Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ban hành ngày 09 tháng 03 năm 2005 về Tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam, trong 24 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, các tổ chức đang thực hiện hoạt động tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam phải tiến hành các thủ tục đề nghị Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép theo các quy định tại Nghị định hoặc chấm dứt các hoạt động tài chính vi mô nhỏ.

Những quan điểm của Nghị định nếu được thực hiện sẽ gây ra những trở ngại cho hoạt động của QTD Yến Mao. Nghị định yêu cầu tổng nguồn vốn pháp định của một tổ chức tài chính vi mô phải có ít nhất là 500 triệu đồng. Những tổ chức có nguồn vốn dưới 5 tỷ đồng sẽ không được huy động tiết kiệm tự nguyện của thành viên. Hiện tại, tổng nguồn vốn hoạt động của QTD Yến Mao mới hơn 200 triệu đồng, trong đó nguồn vốn tiết kiệm tự nguyện thành viên là 33 triệu đồng. Để có thể thực hiện Nghị định, hiện tại, giải pháp trước mắt của QTD có thể liên kết với QTD các xã lân cận là Tu Vũ, Phượng Mao, Trung Thịnh và Thạch Đồng thành lập quỹ tài chính vi mô nhỏ cấp huyện tại huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

Nguồn: RDSCVN.org

Load More Related Articles
Load More By dungkeu78
Load More In Dự án phát triển

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Check Also

Hệ thống thông tin quản lý tài chính Quỹ tín dụng tiết kiệm

1. Bối cảnh Theo báo cáo phát triển của ngân hàng thế giới năm 2004 cho biết có khoảng 57 …